4 sự kiện vô cùng đặc biệt trước khi Đức Phật thành đạo

Trong bài viết dưới đây kể về 4 sự kiện vô cùng đặc biệt xảy ra trước khi Thái tử Tất Đạt Đa chứng đắc đạo quả Vô thượng Bồ Đề, hiệu là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

I. Ngày Đức Phật thành đạo – 8/12 âm lịch

Theo Phật giáo Bắc truyền, ngày Thành đạo diễn ra vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch. Sau khi vượt thành xuất gia, Sa môn Cù Đàm trải qua nhiều năm tháng tầm sư học đạo và khổ hạnh nơi rừng già, mục đích tìm ra con đường thoát ly sinh tử. Ngài đã thọ giáo nơi các tiên nhân nổi tiếng như Kalama, Ramaputta, và đã đạt đến trình độ tâm linh như các vị ấy. Tuy nhiên, Ngài biết rằng ở cõi trời cao nhất là Phi tưởng Phi phi tưởng cũng chưa phải là cứu cánh giải thoát vì còn trong Tam giới.

Cuối cùng Ngài nhận ra rằng, chỉ nên tìm học ở ngay chính mình chứ không tìm cầu bên ngoài mà được. Miệt mài thiền định dưới cội Tất bát la (Bồ đề), Ngài chứng quả vị tối thượng vào đêm thứ 49, khi sao Mai vừa mọc. Từ đó, Sa môn Cù Đàm trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và đêm lịch sử ấy được gọi là Đêm Thành đạo.

“Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, Bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người.”

“Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào? Của Như lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời.” (Tăng chi I phẩm Một người, tr. 28, xb. 1980).

Đọc thêm: Đức Phật thành đạo vào ngày, năm nào? Ý nghĩa ngày Phật thành đạo

II. 4 sự kiện đặc biệt trước khi Đức Phật thành đạo

Bát cháo sữa giúp Thái tử Tất Đạt Đa hồi tỉnh để quay về con đường tu trung đạo; chiếc bát vàng trôi ngược dòng Ni Liên Thiền báo hiệu Ngài chắc chắn thành tựu đạo quả; 5 giấc mơ điềm báo về bậc Chính Đẳng Giác sắp ra đời và Thiên ma quấy phá cản trở Ngài đạt đạo trong đêm thứ 49.

Đó chính là 4 sự kiện vô cùng đặc biệt xảy ra trước khi Thái tử Tất Đạt Đa chứng đắc đạo quả Vô thượng Bồ Đề, hiệu là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Để tìm hiểu sâu hơn về 4 sự kiện đặc biệt đó, kính mời quý Phật tử cùng theo dõi bài viết dưới đây.

1. Bát cháo sữa của nàng Sujata

Từ khi rời bỏ hoàng thành xuất gia, sau 5 năm tầm sư học đạo, dù học hết kiến thức và tu tập khổ luyện nhưng Ngài vẫn chưa thể thể tìm ra lời giải đáp được ý nghĩa vĩnh cửu cho nhân sinh. Vì vậy, Thái tử Tất Đạt Đa quyết định dấn thân thực hành pháp tu khổ hạnh ép xác cùng với 5 anh em ông Kiều Trần Như (sau này trở thành 5 vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật).

Ròng rã suốt 6 năm tu hành khổ hạnh chốn rừng già, có những giai đoạn Thái tử chỉ ăn ngày một hạt đậu, một hạt vừng hay lạc; hay mùa đông tuyết rơi thì ở ngoài trời lạnh; mùa hè nắng cháy thì ở bãi tha ma; dùng gậy hoặc roi quất vào cơ thể,…

Cuối cùng thân thể Ngài trở nên gầy mòn, đen đúa như bộ xương khô, hốc mắt trũng sâu, hoáy vào như hai cái giếng. Khi đó, Thái tử thấy rằng ép xác khổ hạnh như vậy khiến Ngài không những không tìm thấy chân lý đạt đạo mà càng làm cho thân thể trở nên mệt mỏi.

Vào một hôm, cô gái Sujata và người hầu Punna đang mang lễ vật để tạ lễ thần linh hộ trì tại gốc cây Bồ đề (nay thuộc phía Đông Nam bang Bihar, Ấn Độ) vì đã giúp cô được toại ý nguyện. Hai người đang quét dọn, sắp đặt mâm lễ thì bỗng nhiên nhìn thầy Thái tử dáng vẻ tiều tụy, bước chậm rãi và sau đó ngã gục xuống gốc cây, ngất lịm. Khi thấy tướng mạo Thái tử, cô gái Sujata tưởng rằng đó là Thần linh nên đã vội vàng mang bát cháo sữa dâng lên cúng dường Ngài.

Sau khi thọ bát cháo sữa thì cơ thể Ngài bắt đầu khỏe trở lại, có sức lực và từ đó, Ngài ngộ ra chân lý rằng: Khổ hạnh cực đoan không giải quyết được vấn đề, không thể đi đến giác ngộ trong một thân thể tiều tụy như vậy. Đó phải là một thân thể khỏe mạnh thì mới có thể tu tập, đạt giác ngộ.

Khi ấy, Ngài quyết định từ bỏ khổ hạnh cực đoan, trở về con đường trung đạo, thiền định tư duy, quyết thành Chánh Giác, cứu độ hết thảy chúng sinh.

2. Chiếc bát vàng trôi ngược dòng sông

Sau khi thọ bát cháo sữa, Thái tử đến bên bờ sông Ni Liên Thiền (nay thuộc Bodh Gaya – Ấn Độ), thả chiếc bát xuống dòng sông và phát nguyện: “Nếu dưới cội cây kia, mà ta đắc thành quả vị Chính Đẳng Giác, thì xin bát vàng này trôi ngược dòng sông. Bằng không thể đắc quả Phật, thì bát vàng này sẽ trôi xuôi”. Khi lời nguyện vừa dứt, một luồng nước xoáy làm cho chiếc bát trôi ngược dòng.

Sau đó, Ngài quay về cội cây Bồ đề bên dòng sông Ni Liên Thiền mà dũng mãnh phát lời thệ nguyện: “Dù máu huyết khô cạn, dù chỉ còn gân, xương và da; ta quyết không rời khỏi chỗ này nếu ta chưa đắc thành quả Phật”. Nói xong, Ngài ngồi thiền trong tư thế kiết già, nhập định suốt 49 ngày đêm.

4 sự kiện vô cùng đặc biệt trước khi Đức Phật thành đạo

3. Năm giấc mơ trước khi Đức Phật thành đạo

Sau khi từ bỏ lối tu khổ hạnh và đi theo lộ trình con đường tu trung đạo, Ngài tĩnh tâm, an trú trong thiền định. Vào một đêm, Ngài nằm mộng năm giấc mơ, đó là:

– Giấc mơ thứ nhất: Ngài chiêm bao thấy mình đang nằm trong tư thế: đầu gối lên dãy Himalaya, tay phải đặt về biển Tây, tay trái gác về biển Đông, hai chân thì đạp về phía biển Nam. Thân của Ngài nằm lớn trên toàn địa cầu này. Ngài lý giải giấc mơ này là dấu hiệu báo Ngài sẽ thành tựu bậc Vô thượng Chính Đẳng Chính Giác trên toàn các cõi.

– Giấc mơ thứ hai: Ngài lại thấy giữa rốn của Ngài mọc lên một cái cây lớn tận trên trời. Đây báo hiệu Ngài là người duy nhất tìm ra con đường giác ngộ giải thoát cho chúng sinh, cho tất cả nhân thiên muôn loài.

– Giấc mơ thứ ba: Ngài nằm mơ thấy bốn phương có bốn đàn chim bay về, mỗi đàn chim một màu sắc khác nhau: màu đen, màu xám, màu vàng, màu đỏ. Chúng đều bay về phía Ngài, đậu vào chân Ngài và tất cả đều biến thành một màu trắng. Điều này nói tất cả các giai cấp sẽ quy hướng Ngài. Và trong tất cả các giai cấp đều sẽ có những người xuất gia tu hành với Ngài và thành tựu giác ngộ.

– Giấc mơ thứ tư: Ngài nằm mơ thấy rất nhiều những con giun màu trắng bò đầy lên bàn chân và lên tận đầu gối Ngài. Rất lạ! Ngài nói là sau này sẽ xuất hiện rất nhiều các vị cư sĩ. Chúng ta vẫn gọi cư sĩ là người áo trắng – những con giun trắng. Những người này sẽ tin kính và hộ trì cho Phật Pháp, cho giáo Pháp của Ngài.

– Giấc mơ thứ năm: Ngài nằm mơ thấy mình đi trên đỉnh núi mà phía dưới toàn những đồ rất nhơ nhớp nhưng chân của Ngài đặc biệt không dính một chút nhơ nào. Giấc mơ này báo hiệu Ngài sẽ nhận sự tôn kính của tất cả thế gian nhưng Ngài không vướng mắc, không dính vào tất cả những sự tôn kính ấy, không vướng mắc vào những danh lợi ấy.

4. Thiên Ma Ba Tuần đem quân cản trở Đức Phật đạt đạo trong đêm thứ 49

Trong lịch sử Phật giáo, Thiên Ma Ba Tuần được biết đến là vua cõi Trời Tha Hóa Tự Tại – tầng trời cao nhất của cõi Trời Dục giới.

Như chúng ta đã biết, vào đêm thứ 49 khi Thái tử Tất Đạt Đa ngồi thiền định dưới cội Bồ đề, Thiên Ma Ba Tuần đã đến quấy phá để cản trở Ngài đạt đạo. Thiên Ma cho hiện ra các cảnh ngũ dục để khiến Thái tử khởi lên niệm ham muốn, ưa thích. Khi ấy, Ngài dõng dạc tuyên bố rằng Ngài đã từ bỏ những thứ dục lạc cấu uế, không còn một mảy may bận tâm, dính mắc nào.

Không dừng lại ở đó, Ma Vương còn cho con gái của mình hiện đến hình nữ sắc đẹp để quyến rũ Ngài. Nhưng lại một lần nữa, Ngài tuyên bố với Ma Vương rằng Ngài đã hoàn toàn từ bỏ sắc dục. Bởi Ngài thấu rõ rằng: Ái là khổ, tham tài là khổ, tham sắc, tham danh là khổ.

Cuối cùng, vào lúc bình minh, khi sao Mai vừa điểm, bậc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, vị Phật, vị Giác Ngộ ra đời ngay giữa cõi đời đau khổ này.

Kể từ khi Đức Phật thành đạo thì giáo Pháp bất tử của Ngài được tuyên dương ở khắp thế gian và mang đến ánh sáng chân lý tối thượng cho muôn loài chúng sinh.

III. Ý nghĩa ngày Phật thành đạo

Trước hết, Phật thành đạo có ý nghĩa đối với bản thân Ngài là một thành công viên mãn. Có trải qua biết bao tháng ngày dài trăn trở quên ăn bỏ ngủ, sáu năm trường khổ hạnh, công phu nhọc nhằn gạn lọc chân lý cạn sâu, dám hy sinh thân mạng và tất cả mọi thứ trên đời để tìm tòi mối đạo mới cảm nhận hết giá trị chói lọi huy hoàng của cái Ngày lịch sử Ngài được suy tôn lên ngôi Đại Giác.

Một niềm an lạc sung mãn thấm đượm nơi Ngài đến nỗi Ngài trải qua tuần lễ đầu tiên sau khi Thành đạo để chứng nghiệm hạnh phúc tâm linh giải thoát và chính thức tuyên ngôn đoạn tuyệt với vòng luân hồi sanh tử khổ đau: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp. Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng nên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng quả Vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục.”

Phật thành đạo không chỉ là một cuộc chinh phục vĩ đại, một chiến thắng vẻ vang đối với bản thân Ngài mà còn là một sự khai sáng tuyệt vời cho hết thảy nhân loại, chúng sanh vì chí nguyện xuất gia của Ngài là để tìm phương cứu chữa cho đời sống chúng sanh ngập chìm trong đau thương, tăm tối như chính lời Ngài phân tỏ với Xa-Nặc lúc chia tay: “Chính vì đêm tối Ta mới đi tìm ánh sáng.” Trong khoảng thời gian 49 năm còn lại của đời mình, Ngài soi rọi Ánh Đạo Vàng đến khắp muôn phương và hiển thị rõ ràng rằng: “Nếu cõi đời không đau khổ tối tăm, Đức Phật đã chẳng xuất hiện ở đời.” Ngài ra đời là “Vì an lạc của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với đời, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người” (Tăng Chi I). Động cơ cao thượng này khiến Ngài cảm thất thất vọng nơi chứng đắc tối hậu của hai đạo sĩ Alara Kalama và Uddaka Ramaputta mà bỏ ra đi.

Phật dạy, “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Lời dạy ấy là đứng trên Phật quả. Nhưng theo tinh thần kinh Lăng Già thì “Chúng sanh đã là Phật”, tức nhắm trên Phật nhân. Đã là Phật, vì chúng sanh nào cũng có trí tuệ đức tướng Như Lai. Như kẻ ăn mày trong kinh Pháp Hoa không biết mình có hạt châu trong chéo áo, cứ phải sống đời lang thang cơ nhỡ. Đến lúc được bạn nhắc nhở, lấy ra dùng thì trở nên giàu sang phú quý. Hạt châu có sẵn như Đạo sẵn đủ tại tâm, chỉ vì ta quên nên mê, còn nhớ ra là ngộ Đạo.

Đức Phật thành đạo nơi cội Tất bát la cách đây gần 26 thế kỷ, nhưng câu chuyện tìm đạo của Ngài vẫn luôn là bài học lớn cho hàng đệ tử Phật chúng ta. Khi mới phát tâm tu, chúng ta cần có thầy hướng dẫn đường lối đúng đắn để khỏi lạc lầm. Đang trong giai đoạn dụng công, ta cũng cần thầy bạn sách tấn và sửa chữa những sai sót, để khỏi sa vào những cám dỗ của ngoại ma. Nhưng vấn đề ngộ đạo lại khác, tự thân hành giả nỗ lực công phu, phải tự nhận ra Phật tâm nơi chính mình chứ không ai làm thay cho ai được.

Hiểu và tin mình có khả năng thành Phật, chúng ta có sự vững vàng trên đường tu. Ta không tìm cầu Phật bên ngoài, không tin có một quyền năng ban phước giáng họa, mà chỉ tin chính tâm mình có chánh nhân thành Phật. Ta cứ một lòng một dạ tiến bước trong Chánh pháp mà không khởi ý niệm mong cầu, thì khi đủ thời tiết nhân duyên, tất nhiên trổ ra chánh quả. Đến lúc ấy, ta mới thấm thía và biết ơn vô cùng lời-dạy-vô-ngôn của Đức Bổn Sư khi cầm cành sen, hay gậy tổ Hoàng Bá khi đập cho đệ tử xuất cách Nghĩa Huyền ba gậy.

Vậy thì rốt cuộc, Thành đạo là nhận ra và hằng sống với con người chân thật chính mình.

Sự kiện Thành đạo của Đức Thế Tôn là điểm son trong lịch sử tôn giáo của nhân loại, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của nhân bản, bình đẳng, vô ngã và từ bi. Ngài là bậc thầy vĩ đại của nhân loại, một con người kỳ vĩ xuất hiện trong thế giới thường nhân, với trí tuệ siêu xuất thể hiện qua ngôn ngữ, văn tự thường tình đã gây âm vang chấn động trong lịch sử tôn giáo và triết học.

Thời gian trôi đi, thế giới loài người cũng đã bao lần đổi thay, nhưng những lời dạy của Đức Phật vẫn mãi mãi là bức thông điệp muôn thuở cho con người khảo nghiệm, nghiên cứu, thực hành. Đức Phật chỉ là một con người, nhưng là một con người kết tinh của vô vàn tinh hoa tuyệt mỹ của nhân loại. Vì thế, đứng ở góc độ nào, người ta cũng thấy được hiện thân của Ngài. Đó là hiện thân của chân lý, của trí tuệ và từ bi.

IV. Vì sao Đức Phật im lặng trong 7 tuần sau khi ngài thành Đạo?

Theo kinh Āriyapariyesana, sau khi thành đạo, Đức Phật băn khoăn có nên chuyển bánh xe pháp hay thị hiện Niết bàn. Bởi Ngài chiêm nghiệm và quán chiếu sâu vào pháp do Ngài mới chứng được là sâu thẳm, vi diệu, cao quý, siêu lý luận, chỉ có người trí mới thấu hiểu… Phần nhiều chúng sinh vì đam mê ái dục khó mà thấy được pháp lý duyên khởi, khó mà thấy được chân lý tất cả hành là tịch tịnh… Một giáo lý chỉ có người trí mới thấu hiểu, chỉ có những con người ly trần diệt nhiễm mới liễu ngộ thì thử hỏi ở thế gian được bao nhiêu người?

Đọc thêm: Vì sao Đức Phật im lặng trong 7 tuần sau khi ngài thành Đạo?

Kinh điển ghi lại rằng trong 7 tuần hay 49 ngày sau khi giác ngộ, Đức Phật không giảng pháp cho bất kỳ ai, Ngài chỉ an trụ trong thiền định, hoàn toàn im lặng như cây đàn đứt dây bặt tiếng, chân xếp chéo trong tư thế liên hoa, tĩnh trụ vững vàng như sơn thạch, tâm an trú trong trí tuệ bản lai vốn thường hằng nơi mọi sự vật hiện tượng.

Vào tuần thứ 2 sau khi đạt giác ngộ, Đức Phật đã chăm chăm hướng mắt nhìn cây Bồ đề mà không hề chớp mắt để tỏ lòng biết ơn cây. Điều này chứng tỏ Đức Phật đã thành tựu ngũ nhãn (dục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn).

Tuần thứ 3, Đức Phật thi triển thần thông đi đến đại dương bao la, cho thấy Ngài đã thành tựu 4 cách thực hiện phép mầu của nguyện ước, nỗ lực, tư duy và phân tích.

Tuần thứ 4, Đức Phật đi chu du khắp thảy tam thiên đại thiên thế giới, điều này là chứng tỏ rằng Ngài đã đạt được năng lực thần thông vô biên.

Có ba loại thần thông tương ứng với ba cấp độ thành tựu tâm linh:

1) Thần thông do năng lực nguyện ước ví dụ như một hành giả muốn đi trên nước và mặt nước biến thành đất bằng;

2) Thần thông chuyển hóa vật chất chỉ có quả vị Bồ tát mới làm được ví dụ như bay trên không trung như chim trời;

3) Thần thông trí tuệ chỉ có quả vị Phật mới đạt được, ví dụ như Phật có thể di chuyển xuyên thời gian, không gian không bị chướng ngại gì bởi năng lực thậm thâm vi diệu của tâm giác ngộ. Để thị hiện ngay cả hai loại thần thông đầu cũng đã đòi hỏi nỗ lực tu tập và thành tựu tâm linh ở trình độ rất cao cấp, còn Đức Phật đã đạt được thần thông trí tuệ, Ngài có khả năng chu du khắp cả tam thiên đại thiên thế giới chỉ trong vòng một tuần mà không chút dụng công.

Tuần lễ thứ 5, Đức Phật đi xuống vương quốc dưới biển sâu của loài rắn thần để thăm hỏi Tanzung, chúa tế của loài rắn.

Tuần thứ 6, Đức Phật dành thời gian cho một người ngoại đạo đang ngụ dưới tàng lá rộng rãi, mát mẻ của cây Neydroda.

Vào tuần lễ thứ 7, có hai anh em lái thương Tapussa và Bhallika vô cùng may mắn được hạnh ngộ Đức Phật. Trong suốt tuần đó, dưới tán cây Tarahetu (gần giống cây sồi), họ cúng dàng thực phẩm và mật ong lên Ngài. Sau mỗi thời thọ trai, Đức Phật đều cầu nguyện và ban phước cho họ. Và Ngài cũng tiên đoán rằng trong tương lai hai anh em họ sẽ thành Phật quả.

Cũng vào tuần thứ 7 sau khi thành đạo, Đức Phật tự nhủ: “Ta đã tìm ra đạo pháp quý giá như nước cam lồ, thậm thâm vi diệu, dẫn đến đại hỷ lạc và ánh sáng toàn thiện. Nhưng dù ta có truyền giảng thì cũng chẳng ai có thể hiểu được, vì vậy ta nên ở lại khu rừng này và giữ im lặng mãi mãi”.

Nhưng rồi Ngài lại nghĩ: “Nếu một người bình thường thỉnh cầu, dù ta là hiện thân của lòng từ bi, ta cũng sẽ không truyền dạy lại đạo pháp. Tuy nhiên, vì tất cả mọi người đều có đức tin đối với đấng Phạm Thiên, nên nếu ông ta thỉnh cầu, ta sẽ chuyển bánh xe Pháp vì lợi ích hết thảy chúng sinh”.

Khi Đức Phật phóng quang, đấng Phạm Thiên, bậc thiên chủ của ba cõi hiểu được tâm ý của Ngài, ông cùng muôn vàn quyến thuộc, tùy tùng cùng chắp hai tay, thỉnh cầu Đức Phật truyền dạy giáo pháp giải thoát…

Ngày Phật thành Đạo vào 8/12 âm lịch sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ Đề. Ngày này thường được coi là ngày quan trọng đánh dấu bước chuyển biến tới Giác ngộ của đức Phật.

Mong rằng, qua bài viết này, quý Phật tử hiểu thêm về cuộc đời của Đức Phật và càng thêm tôn kính Ngài đã đại vì lợi ích chúng sinh mà chấp nhận mọi thử thách, chướng ngại, quyết đắc thành đạo quả.

Trích nguồn: Phatgiao.org.vn/Chuabavang.com!

Bài trướcXem tuổi xông đất năm 2022 cho gia chủ tuổi Nhâm Thân 1992
Bài tiếp theoXem tuổi xông đất năm 2022 cho gia chủ tuổi Tân Mùi 1991