Tử Vi Ngày Nay
Image default
Lời Phật Dạy

Bệnh tật từ đầu mà có? Lý giải về nguồn gốc bệnh tật của loài người

Bệnh tật từ đầu mà có? Loại lớn thứ nhất là do sinh lý, ăn uống không điều độ. Loại thứ hai là oan nghiệp. Gốc bệnh loại thứ ba là túc nghiệp.

1. Bệnh tật từ đầu mà có?

Bệnh tật là chuyện mà đời người chúng ta khó tránh khỏi. Con người đến khi bị bệnh, đặc biệt là lúc tình trạng bệnh nghiêm trọng, quả thực là tâm sẽ loạn ngay, tự mình không làm chủ được, cái gọi là “bệnh ngặt thì vái tứ phương”. Cách làm này không những không có lợi ích gì cho bệnh tật, mà rất có thể nặng thêm.

Có một số loại bệnh quả thực có thể trị khỏi, ngược lại trở nên bất trị. Tình trạng này từ xưa đến nay đều có. Hiện nay xung quanh đời sống chúng ta, chỉ cần chúng ta chú ý, thì bạn sẽ thường xuyên nhìn thấy. Điều quan trọng nhất là chính bản thân chúng ta, nếu khi chúng ta gặp phải bệnh tật, thì phải xử lý như thế nào mới là chính xác?

Trước tiên, nhất định phải biết được căn nguyên của bệnh tật. Chúng tôi trong các buổi giảng thường ngày, đã từng nhiều lần nhắc đến, căn nguyên của bệnh tật. Đại thể có thể phân thành ba loại lớn.

Loại lớn thứ nhất là do sinh lý, ăn uống không điều độ, không tiết chế nóng lạnh dẫn đến phong hàn. Ngạn ngữ xưa thường nói: “bệnh tùng khẩu nhập”. Ăn uống cùng với vệ sinh trong đời sống thường ngày có quan hệ mật thiết với sức khỏe của cơ thể chúng ta.

Sau đó còn có một nhân tố quan trọng là tâm trạng. Tâm trạng có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi sinh lý của chúng ta. Người thế gian cũng đã sớm phát hiện ra, cũng vô cùng coi trọng.

Nhà Phật, nhà Nho cũng đều nói đến. Đạo Hồi – đối với việc lựa chọn ăn uống – quan điểm chủ yếu của họ là rất chú ý đến việc giữ cho tâm trạng thật tốt. Phàm là tâm trạng không tốt, thì bất kể là động vật hay thực vật họ đều không ăn, đây chính là biết cách bảo hộ tâm trạng. Đây là loại thứ nhất, đều liệt vào bệnh về sinh lý.

Loại thứ hai là oan nghiệp. Cái thứ này không thể không tin, ví dụ quá nhiều rồi. Chúng tôi ở nước ngoài thường hay nhìn thấy, còn nghe thì nhiều hơn nữa. Thậm chí là người bị bệnh, chính họ đến tìm tôi, bạn bè người thân quyến thuộc của họ mang họ đến tìm tôi, tôi gặp những hình ảnh này quá nhiều rồi. Bệnh thuộc loại này, hiện nay trong y học gọi nó là tâm thần phân liệt. Thường thường khi bệnh nghiêm trọng thì liền đưa vào bệnh viện tâm thần. Vô cùng đáng thương!

Nguyên nhân do đâu vậy?

Oan quỷ dựa vào, oan thân trái chủ của họ dựa vào trong người họ, chẳng phải đến đòi nợ thì là đến đòi mạng. Nếu đòi mạng thì nhất định phải dày vò họ đến chết mới thôi. Đòi nợ thì muốn cho họ phải chịu nhiều đau khổ, còn phải tốn một khoảng tiền thuốc thang chữa trị tương đối, đó là nợ nần của họ. Sự việc này rất phiền phức, điều này thuốc thang chữa trị không thể giải quyết, thầy thuốc cũng đành bó tay.

Phàm là bệnh trạng thuộc loại này, thì phương pháp trong Nhà Phật là điều giải, là phải thương lượng với linh quỷ này, có thể ra điều kiện với họ, bên này bên kia, hai bên đều được lợi ích, hiện nay gọi là cùng thắng, xin họ thoát ra.

Trong Phật pháp, phần nhiều là tu các công đức, đặc biệt là hồi hướng cho họ. Đại đa số oan thân trái chủ đều tiếp nhận, cho nên điều giải có hiệu quả rất lớn. Họ tiếp nhận liền thoát ra ngay, người này liền khỏi bệnh.

Trong lịch sử Trung Quốc, một ví dụ rõ ràng nhất đủ để làm đại biểu cho loại bệnh này là Quốc sư Ngộ Đạt thời nhà Đường. Quốc sư Ngộ Đạt bị bệnh mụn hình mặt người, cơ hồ như là đòi mạng.

Ngài được coi là một vị cao tăng tu hành có đạo đức. Gặp được tôn giả Ca Nặc Ca giúp đỡ Ngài điều giải, oán thân trái chủ của Ngài đã đồng ý, thoát ra khỏi, hơn nữa nói rõ trong đời quá khứ, Ngài đã hãm hại người ta như thế nào, cho nên Ngài mới bị quả báo này. Phương pháp điều giải này cũng được ghi chép lại, viết thành cuốn Từ Bi Tam Muội Thủy Sám. Đây là thuộc về điều giải.

Gốc bệnh loại thứ ba là túc nghiệp. Nó không phải sinh lý, nó cũng không phải oán gia trái chủ mà là đời quá khứ hoặc giả là đời này tạo tác tội nghiệp cực nặng, bản thân lại không có phước báo lớn.

Nếu như bản thân có phước báo lớn, tạo tội nghiệp cực nặng thì bị tổn phước, tổn thất phước báo của bạn. Nếu như phước báo thật vô cùng lớn, tuy bị tổn thất đến 90%, bạn vẫn còn 10% phước báo có thể hưởng. Nếu như không có phước báo lớn như vậy thì phiền phức liền đến ngay. Loại bệnh tật này, chúng ta quan sát tỉ mỉ, hiện nay cái gọi là bệnh người già, chứng sa sút trí tuệ của người già. Đây là nghiệp chướng.

Người hiện nay không hiểu, cho rằng con người khi về già thì chắc chắn phải mắc loại bệnh này, người già thì phải lẫn. Họ không biết tình trạng bình thường là càng già thì càng khỏe.

Tại sao lúc về già họ càng cường tráng vậy? Vì kinh nghiệm của họ phong phú, đối với ăn uống, đối với việc chăm sóc tâm trạng, họ hiểu rất nhiều. Hay nói cách khác là họ hiểu được đạo dưỡng sinh, cho nên càng già càng khỏe mạnh. Điều này rất phù hợp với logic, rất phù hợp với khoa học.

Già mà suy, thành thật mà nói là trong đời sống thường ngày họ không hề học tập được đạo dưỡng sinh, họ không hề lưu ý, nên họ không học được. Bình thường thì chắc chắn là càng già càng khỏe mạnh, càng già càng có trí tuệ, càng già càng có kinh nghiệm. Cho nên trong ngạn ngữ Trung Quốc có nói: “Nhà có người già là nhà có của báu”. Gặp chuyện gì khó khăn đến thỉnh giáo họ thì đều có thể hóa giải, vì họ có trí tuệ, kinh nghiệm của họ phong phú hơn người trẻ tuổi, trí tuệ cao hơn người trẻ tuổi, cho nên họ là trụ cột trong gia đình, trụ cột trong một đoàn thể nhỏ.

Bệnh tật từ đầu mà có? Lý giải về nguồn gốc bệnh tật của loài người

2. Phương pháp tuyệt vời làm chủ bệnh tật

Trong nhiều bài kinh chúng ta cũng thường thấy hình ảnh đức Phật bị bệnh tật, bị thọ bệnh. Đúng vậy đã có thân thì phải có bệnh. Đức Phật dạy bệnh tật cũng do nhân quả sinh ra, do nghiệp lực tác thành.

Sau khi đọc qua bài Kinh Miếng Đá Vụn, chúng ta sẽ thấy được một hình ảnh mô tả rất cụ thể và sinh động về một sự việc xảy ra khi chân của Thế Tôn bị miếng đá bể đâm phải vào chân.

Đó là một sự việc rất thường tình, rất bình thường, rất giản dị của Đức Phật trong những lúc Ngài bị những chướng ngại ác pháp của môi trường nhân quả tấn công vào xác thân vô thường.

Những lần Đức Phật bị những cảm thọ trên cái thân tứ đại vô thường này, thì tâm tư của Thế Tôn không hờ biểu lộ một chút sợ hãi hoặc lo lắng gì cả.

Về thân thì những cảm thọ rất đau đớn khốc liệt đang hoành hành liên tục hiện hữu trên xác thân của Phật, mà về tâm thì Thế Tôn chỉ hướng đến đó là chính niệm tỉnh giác.

Chúng ta hãy xem cách thức, phương pháp Đức Phật làm chủ vượt qua những cảm thọ của bệnh tật “Cảm thọ Thế Tôn mãnh liệt. Thân cảm thọ khổ đau, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú. Nhưng Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não”.

Phương pháp mà Đức Phật làm chủ bệnh, vượt qua bệnh tật đó là Phật chỉ dùng phương pháp Chánh Niệm Tỉnh Giác. Trên thân này dù cảm thọ đau đớn khốc liệt đến đâu thì Ngài vẫn không hờ sợ hãi, vẫn không hờ lo lắng, vẫn không hờ bị tác động, vẫn không hờ bị chi phối bởi những cảm giác, cảm thọ đau đớn khốc liệt đang hiện hữu trên thân của Ngài.

Đời sống sinh hoạt của đức Phật rất bình thường. Hằng ngày, đức Phật vẫn sống một đời sống phạm hạnh trong sạch hoàn toàn. Sống với ba y một bát, ngày ăn một bữa, không cất giữ tiền bạc, đức Phật là một du tăng khất sĩ nên không có nơi nào là chùa, tịnh xá, để Ngài làm trú xứ lâu dài, Ngài thường đi du tăng từ chỗ này đến chỗ kia để đem giáo pháp giác ngộ sự thật của khổ đau đến cho chúng sanh có đầy đủ nhân duyên tiếp nhận chánh pháp.

Qua đó chúng ta cũng thấy rõ ràng sinh hoạt thường nhật của Phật rất giản dị bình thường. Cứ mỗi buổi sáng Phật vào làng khất thực xin ăn, khi dùng cơm xong Ngài đi rửa bình bát, rồi Ngài đi kinh hành thư giãn, nghỉ ngơi để cho cái thân xả nghĩ.

Đến đầu giờ buổi chiều, buổi tối, khuya. Ngài thường giảng dạy thuyết pháp về giáo lý trung đạo như giáo lý nhân quả, giáo lý vô thường vô ngã, Tứ Diệu đế, thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo, ngũ căn, ngũ lực, tứ chánh cần, tứ như ý túc, tứ niệm xứ và bảy bồ đề phần.

Ngài nói pháp giảng dạy cho các hàng đệ tử xuất gia, cư sĩ tại gia hoặc thuyết pháp cho những ai (ngoại đạo bà la môn) có nhu cầu muốn nghe pháp hoặc chất vấn, cho dù có một người muốn đến thưa hỏi pháp thì Ngài vẫn thuyết pháp. Đức Phật thuyết những pháp mình đã tu tập, đã chứng ngộ từ sơ thiện, trung thiện và hậu thiện trình bày đầy đủ ý nghĩa rõ ràng mạch lạc và nêu rõ phạm hạnh một cách trong sạch thanh tịnh hoàn toàn.

Có một hình ảnh rất giản dị đến nỗi chúng ta cảm nhận rằng đức Thế Tôn là một người rất gần gũi, và thực tế. Mỗi khi bị bệnh tật đau nhức thì Ngài trải y nằm kiết tường với tâm tư luôn luôn chánh niệm tỉnh giác “Rồi Thế Tôn cho trải áo Sanghàti (Tăng-già-lê) xếp tư lại, nằm xuống phía hông bên phải như dáng điệu con sư tử, chân đặt trên chân, chánh niệm tỉnh giác”.

Đức Phật nằm nghiêng bên phải với dáng điệu con sư tử, với tâm tư luôn luôn chánh niệm tỉnh giác. Cho dù bị đớn đau, nhứt nhối cả thân, còn tâm tư không thoái mái, không an lạc gì cả nhưng đức Phật vẫn nằm kiết tường, chứ không nằm ngửa, nằm kiểu sấp giống như người phàm phu.

Dáng điệu nằm kiết tường là một trong những oai nghi chánh hạnh của người xuất gia, dáng nằm kiết tường là một kiểu nằm rất kín đáo, đẹp đẽ, và phù hợp với người xuất gia tu hành giải thoát, dáng nằm này nói lên được một người đã lìa xa, buông bỏ sạch các dục vọng tham muốn của thế gian.

Đức Phật vẫn nằm kiết tường kham nhẫn, vui vẻ, và bằng lòng đón nhận cái đau đớn của thân nhân quả này. Chính nhờ hiểu được như vậy tâm Ngài không hờ phiền não, không hờ sân si, không hờ sầu muộn với những cảm giác đang đau đớn khốc liệt.

Đó là cách thức Đức Phật làm chủ bệnh, vượt qua bệnh khổ. Nhờ vậy mà tâm tư Ngài luôn hướng về tâm giải thoát vô lậu. Tâm giải thoát vô lậu đó là tâm bất động, thanh thản và an lạc vô sự. Cho nên Ngài lúc nào cũng thường xuyên răn dạy cho học trò của mình.

“Vui thay, chúng ta sống,
Không bệnh, giữa ốm đau!
Giữa những người bệnh hoạn,
Ta sống, không ốm đau.” (kinh PHÁP CÚ)

Đó là một tinh thần trong sáng đầy lạc quan của Đức Phật. Lúc Ngài ốm đau nhưng Ngài không hờ phiền não, không hờ sân si nổi giận trước bệnh tật, cảm thọ. Cho nên Ngài không bao giờ sợ bệnh đến.

Ngài đã hiểu tính chất vô thường sinh diệt, hợp tan của các pháp, thì có gì đâu mà Ngài lại sầu ưu, phiền não trước bệnh tật?

Chính Ngài đã hiểu tính chất sinh diệt “Các pháp tự duyên sinh, các pháp tự duyên diệt”. Mà cái “ nhân quả của các pháp là vô thường”, bệnh tật cũng là một trong những pháp vô thường, sinh diệt, hợp tan. Nếu đủ duyên hợp thì bệnh đến và nếu hết duyên hợp thì bệnh cũng đi.

Do hiểu được tính chất nhân quả vô thường, hợp tan, sinh diệt như vậy, tâm tư đức Phật không bị cảm thọ của trọng bệnh chi phối, tác động làm cho sầu ưu, khổ sở, phiền hà chi cả.

Còn khi đức Phật nhìn thấy chúng sanh phàm phu đang bị bệnh hoạn, thì thân đã bị bệnh khổ sở đau đớn rồi, mà lẫn tâm của họ cũng bị sầu muộn, phiền hà bởi bệnh tật luôn.

Mỗi lần chúng sanh, phàm phu bị bệnh thì tâm tư rất sợ hãi, lo lắng, đau đớn, sầu muộn thì Ngài thấy cảm thương cho họ. Cho nên, đối với người phàm phu mỗi khi bệnh tật, tai nạn, hay những chuyện rủi ro đến trong cuộc sống thì thân lẫn tâm đều bị bệnh, đều bị đau khổ cả; còn đối với đức Phật và các bậc Thánh thì thân tuy bệnh nhưng tâm không bị bệnh, tâm không sầu khổ. Nhờ có trí tuệ, Đức Phật còn gọi là Tri kiến giải thoát nên các Ngài luôn sống trong trạng thái giải thoát, đó là trạng thái Niết Bàn.

Chúng ta hãy lắng nghe một vị Thiên nói lên lời cảm hứng tán thán trước mặt Thế Tôn: “Hãy xem tâm của Ngài khéo được tu tập Thiền định và giải thoát, không có nổi lên, không có chìm xuống, mọi hành động được tác thành, không có ai kích thích”.

Thật vậy, chính Đức Phật đã khéo nhờ sự tu tập thiền định mà Ngài đã hiểu rõ sự thật cội nguồn của chân lý: chân lý về Khổ, chân lý về Nguyên Nhân của Khổ, chân lý về Trạng Thái Diệt Khổ và chân lý về Con đường đưa đến sự Diệt Khổ.

Khi tâm Đức Phật hiểu rõ được chân lý về trạng thái diệt khổ thì tâm tư Ngài được giải thoát, đạt được tâm giải thoát vô lậu thì mới hiểu rõ một cách chân chánh, hiểu biết một cách như thật về sự thật của Khổ và về sự thật Nguyên nhân của Khổ.

Chính nhờ tâm Ngài đã hiểu biết như thật cái nguyên nhân của các cảm thọ tác động trên thân này bởi do từ đâu sinh ra? Nên tâm các Ngài hướng đến giải thoát Bất Động và tâm các Ngài hướng đến giải thoát Vô Sự mà không hờ phải rên la, ta thán, oán trách khi những cảm giác trên thân bệnh hoành hành đau đớn khốc liệt như vậy.

Những người bình thường không hiểu biết được nguyên nhân của các cảm thọ này. Cho nên họ thường oán trách, than phiền trách đất, rồi chỉ định là do mình bị xui xẻo, bị trời đất, thần linh hay một đấng tối cao nào đó trừng phạt. Vì mọi người hiểu theo một định mệnh nên mọi người không hiểu được cái gốc sự thật của Khổ và cái gốc sự thật Nguyên Nhân của Khổ này nên con người khổ đau triền miên mãi mãi. Nếu chúng ta hiểu rõ như thật thì sẽ không còn hành động làm khổ mình, làm khổ người và làm khổ mọi loài chúng sanh nào cả.

Chính vì thế Đức Phật dạy hàng đệ tử và tất cả chúng sanh phải luôn luôn sống tỉnh thức. Tỉnh thức ở đây là chỉ cho ba hành nghiệp: Thân, Khẩu và Ý của chúng ta lúc nào cũng phải sáng suốt, tỉnh táo, không bị mê muội mất sáng suốt để mỗi khi chúng ta hành động hay làm một việc gì, một điều gì thì hành vi, hành động cũng phải tỉnh thức, sáng suốt hết.

Tỉnh thức để luôn luôn sống với ý thức thiện, ý thức lành, sống với ý thức không làm tổn thương đến mình, không làm tổn thương đến người khác và không làm tổn thương đến tất cả muôn loài chúng sanh.

Tình yêu thương này sẽ không còn giới hạn bởi không gian, thời gian hay bởi một loài chúng sanh nào cả… tình yêu thương này rộng lớn hơn biển cả và cao cả hơn hẳn núi non.

Trích nguồn: Phatgiao.org.vn!

Bài viết liên quan

5 việc thiện tích đức, kết nghiệp lành, tốt đẹp không kém gì phóng sinh

Bảo Trang

Tụng niệm Chú Đại Bi giúp tiêu tai giải nạn và sự linh ứng nhiệm màu

Bảo Trang

Học cách chế ngự ham muốn sắc dục của người xưa chẳng hề dễ dàng

Bảo Trang

Lấy sáng suốt để giác ngộ, lấy định tĩnh để giải thoát

Bảo Trang

Như thế nào là phạm tội tà dâm? Nhân Quả báo ứng đối với tội tà dâm

Bảo Trang

Đức Phật nói về ai là người ban phước giáng họa cho con người

Bảo Trang