Hiểu rõ ý nghĩa về thờ cúng tổ tiên theo quan điểm của Phật giáo

Những quan điểm của Phật về thờ cúng tổ tiên khá rõ ràng vì Phật giáo luôn tôn trọng nét văn hóa đặc trưng của từng Quốc gia, không bao giờ cố tình phá bỏ những giá trị tốt đẹp mà người dân nơi đó đang nuôi dưỡng.

Thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội Việt Nam. Đây là cách thể hiện lòng biết ơn và sự tri ân với những người đã khuất.

Theo quan niệm, những người đã khuất thường xuyên can dự vào cuộc sống hiện tại, họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo vệ chúng ta…

Cho đến nay, hiện tượng thờ cúng tổ tiên còn tồn tại ở nhiều quốc gia, dân tộc. Tuy vậy, vị trí và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của con người ở mỗi nơi mỗi khác.

Ở một số quốc gia, thờ cúng tổ tiên có vai trò mờ nhạt trong đời sống tinh thần cộng đồng, nhất là những quốc gia và dân tộc đưa một tôn giáo thành độc tôn, nhất thần.

Nhưng ở những quốc gia đa, phiếm thần thì thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi cá nhân, cộng đồng, xã hội.

Ở Việt Nam, hầu hết mọi người đều thờ cúng tổ tiên kể cả những tín đồ của một số tôn giáo. Mọi người quan niệm tín ngưỡng này vừa như là một phong tục truyền thống, vừa như một đạo lý làm người, lại vừa như một hình thức sinh hoạt tâm linh.

1. Đối tượng của thờ cúng tổ tiên

Ở Việt Nam, đối tượng của thờ cúng tổ tiên được thể hiện ở 3 cấp: gia đình, làng xã, đất nước.

Ở cấp độ gia đình, người Việt Nam thờ cúng ông bà, cha mẹ,… là những người cùng huyết thống đã chết. Đã là người Việt Nam, dù sang hèn, giàu nghèo ai cũng thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình. Đây không chỉ là vấn đề tín ngưỡng mà còn là vấn đề đạo lý, phản ánh lòng biết ơn của con cháu đối với công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Nơi thờ cúng là ở gia đình và nhà thờ họ.

Ở cấp độ làng xã, người Việt còn thờ cúng những người có công với làng xã và được tôn vinh là Thành hoàng và nơi thờ cúng ở đình làng.

Ở cấp độ Nhà nước, người Việt thờ cúng những người có công đối với đất nước, như các Vua Hùng, Thánh Gióng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chủ tịch…

Ở Việt Nam có 3 cộng đồng vốn từ xa xưa đã có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là: gia đình, làng xã và quốc gia. Vì vậy, tổ tiên gia đình, làng xã và đất nước không tách rời nhau.

Từ thực tế đó, chúng ta có thể hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng tâm lý xã hội thể hiện sự biết ơn của người còn sống đối với người đã chết có công lao với cá nhân, gia đình, dòng tộc, làng xã, đất nước, thể hiện niềm tin rằng, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn tồn tại ở một thế giới khác và linh hồn tổ tiên có khả năng tác động tới đời sống, số phận của con cháu thông qua các nghi lễ thờ cúng.

2. Sự hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam

Về nhận thức

Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần: phần xác và phần hồn. Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó với nhau.

Khi con người còn sống, hồn nhập vào xác điều khiển hành vi của con người. Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ hòa vào cát bụi, phần hồn vần tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác (cõi âm). Ở Cõi Âm (được mô phỏng từ Cõi Dương) mọi linh hồn đều có các nhu cầu như cuộc sống nơi trần thế.

Sự kính trọng, biết ơn

Nỗi lo sợ bị trừng phạt của con người không phải là yếu tố duy nhất và chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.

Nếu chỉ vì sợ hãi mà con người phải thờ cúng thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã không thể tồn tại lâu bền và đầy giá trị nhân văn như vậy.

Yếu tố tâm lý có vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là sự tôn kính, biết ơn đối với các thế hệ trước, là tình yêu và lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ.

Sự sợ hãi

Trong cuộc sống con người còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh, sa cơ, lỡ vận, bệnh tật hiểm nghèo… luôn đe doạ sự bình an của con người. Con người còn thiếu tự tin vào chính bản thân khi phải đối mặt giải quyết với các vấn đề trên trong cuộc sống của chính bản thân họ.

Họ luôn mong muốn có sự giúp đỡ của các thế lực khác nhau, trong đó họ cần đến sức mạnh của ông bà tổ tiên ở “thế giới bên kia” che chở, nâng đỡ.

Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh hồn ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc sống của những người đang sống.

Trong cuộc sống của mỗi con người, càng về già, cái chết luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với mỗi người, con người không muốn nó diễn ra, ngay cả khi họ có cuộc sống nơi dương thế luôn gặp khó khăn và trắc trở, nhưng họ lại luôn phải đối mặt với nó.

Thực hiện các lễ nghi thờ cúng tổ tiên trong không gian thiêng đó, mỗi người được trải nghiệm và cũng như một lần được chuẩn bị tâm thế chấp nhận cái chết một cách thanh thản, bình tĩnh và nhẹ nhàng hơn.

3. Quan điểm của Phật về thờ cúng tổ tiên

Đã từ lâu, bàn thờ gia tiên được lập cho người thân trong nhà và thắp hương thờ cúng để tưởng niệm, ghi nhớ ân đức sinh dưỡng của tổ tiên, ông bà. Bên cạnh đó có không ít người muốn nhờ sự hỗ trợ của họ để làm được nhiều điều mà vốn không thể làm.

Đó là thói quen khi người dương thờ người âm để họ trợ giúp, gọi là phù hộ độ trì. Được phù hộ là được may mắn. Được độ trì thì có thể làm được nhiều việc khác thường.

Thời kỳ đạo Phật được du nhập vào Việt Nam thì có nhiều giao thoa, có cái bị loại trừ có cái được chọn lọc tuy nhiên, phong tục thờ cúng ông bà tổ tiên vẫn được trân trọng, duy trì trong đời sống tâm linh song hành với việc thờ Phật.

Khi tìm hiểu Đức Phật nói về việc cúng tế ta đã biết rằng khi một người qua đời thì thời gian tối đa 49 ngày thì vong linh của họ đã theo nghiệp mà tái sinh vào cõi tương ứng trong lục đạo.

Theo đó, Đức Phật từng dạy Bà-la-môn rằng: “Nếu người thân tộc của ông sinh vào trong địa ngục, nó sẽ ăn thức ăn của chúng sanh địa ngục để nuôi sống sinh mạng của nó, chứ không nhận được đồ ăn thức uống mà ông bố thí với tín tâm.

Nếu nó sinh vào súc sanh, ngạ quỷ, hoặc loài người, họ sẽ được đồ ăn thức uống của loài người, không nhận được đồ bố thí của ông.

– Này Bà-la-môn! Trong đường ngạ quỷ có một nơi tên là Nhập xứ ngạ quỷ. Nếu người thân tộc của ông sinh vào trong Nhập xứ ngạ quỷ kia, thì sẽ nhận được thức ăn của ông”.

Vì thế, khi chúng ta thực hiện việc thờ cúng phải hiểu rằng nếu ông bà tổ tiên tái sinh là chư thiên sẽ không ăn được những gì ta thờ vì họ thấy dơ bẩn, không xứng với họ. Nếu họ đã trở thành người, sống ở nơi khác thì cũng chẳng thể nhận đồ ăn của ta. Còn nếu họ đang ở địa ngục dù đói khát đến mấy cũng không thể thoát ngục để tới uống ăn.

Chỉ riêng loài ngạ quỷ – quỷ thần là có thể ăn đồ cúng của loài người. Tức là khi người thân của ta ở nơi ngạ quỷ thì cúng kiếng cho họ sẽ thọ dụng được.

Thực tế là chúng ta không đủ khả năng để biết liệu người thân của chúng ta đã chuyển sinh về đâu nên việc dâng đồ lễ cúng lên bàn thờ chủ yếu nhằm thể hiện lòng thành, là bổn phận của con cháu mà thôi.

Theo quan điểm của Phật về thờ cúng tổ tiên thì cuối cùng việc ta làm là thực hiện nét văn hóa tốt đẹp của người Việt chủ yếu là để bày tỏ tâm hiếu thảo, biết ơn và đền ơn người đã khuất. Đó là hành động kết nối giữa quá khứ và hiện tại vì không có quá khứ thì cũng chẳng thể có ta ở hiện tại.

4. Không thờ cúng tổ tiên liệu có được?

Người châu Á, nhất là người Việt luôn coi trọng gốc rễ, nguồn cội nên việc thời cúng còn là để nhắc nhở các con không quên huyết thống dòng tộc của mình. Đó là nét văn hóa tốt đẹp nên được bảo tổn, gìn giữ. Cho nên không chỉ vì quan niệm rằng không biết ông bà có ở đó không mà thờ hay xem nhẹ việc này.

Hơn nữa, dù có quan điểm khá rõ ràng về sự sống và cái chết như trên nhưng đối với Đạo Phật, bàn thờ gia tiên vẫn là chốn thiêng liêng – nơi thể hiện sâu sắc niềm tin tâm linh của người Việt. Và điều quan trọng là việc thờ cúng thể hiện được lòng hiếu thảo – điều đáng quý nhất của con người trong góc nhìn của Đạo Phật.

Theo lời Phật dạy về hiếu thảo thì những ai hiếu đạo, kính thờ và phụng dưỡng cha mẹ mang lại phước báo lớn… Vì thế dù không xem bàn thờ gia tiên là “nơi ở” của ông bà, tổ tiên, những người thân vì ta chẳng đủ năng lực để biết người đã khuất đã đi về đâu trong lục đạo luân hồi nhưng không thể bỏ hẳn bàn thờ.

Bàn thờ gia tiên biểu trưng cho cội nguồn cũng như việc cây có cội, nước có nguồn. Kính thờ tổ tiên luôn là việc cần thiết để bày tỏ lòng hiếu thảo, thể hiện tâm nhớ ơn và hoài nguyện đền đáp ơn sâu nghĩa nặng, chính điều này đã un đúc và hình thành nên truyền thống hiếu nghĩa quý báu của người Phật tử.

Tử đó, con cháu vì tưởng nhớ niệm ân ông bà tổ tiên nên con hiền cháu thảo phát đại nguyện làm tất cả công đức thiện lành trong khả năng để hồi hướng phước báu cho họ.

Phật giáo khuyến khích làm phước để hồi hướng cho người thân đã khuất, vì dầu họ tái sinh vào đâu cũng nhận được phước đức do con cháu hiếu thảo hồi hướng đến.

Cho nên khi thờ cúng ta chỉ cần thực hiện cái lễ đơn giản, chủ yếu là sự thành tâm, và phải tập trung việc tạo phước để hồi hướng, trao truyền hiếu đạo cho người sau. Ngày thường, chúng ta có thể tạo phước bằng việc giúp người từ tâm, người nhỏ làm việc nhỏ, ai có gì giúp nấy, không cần phải cầu kỳ, hoa mỹ.

Vì thế, theo góc nhìn của Đạo Phật thì không hề khuyến khích phá bỏ bàn thờ như nhiều giáo phái khác vì họ cũng không hề xem việc thờ cúng tổ tiên ông bà là “thờ quỷ” như một số người vong ơn, bội nghĩa, bất hiếu, tà kiến quan niệm.

Theo tuvingaynay.com/Tổng hợp!