Tử Vi Ngày Nay
Image default
Tâm linh

Ngày Xá tội vong nhân 2022 là ngày nào? Nguồn gốc và ý nghĩa

Trong tháng cô hồn tháng 7 âm lịch có một ngày được gọi là ngày Xá tội vong nhân. Ngày Xá tội vong nhân 2022 rơi vào ngày nào, ý nghĩa và sự tích ngày này ra sao? Mời bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây.

1. Ngày xá tội vong nhân là gì?

Ngày xá tội vong nhân là ngày mà các âm hồn còn vất vưởng nơi trần gian chưa thể về được cõi âm được siêu độ. Ngày này được thực hiện vào ngày rằm tháng 7, đây là ngày cuối cùng vong hồn được ở trên dương thế được ăn uống cầu siêu trước khi cánh cửa địa ngục đóng lại.

2. Ngày xá tội vong nhân rơi vào ngày nào?

Ngày xá tội vong nhân hàng năm diễn ra vào ngày 15 tháng 7 (Âm lịch), điều này có nghĩa là ngày xá tội vong nhân 2022 rơi vào thứ tư ngày 12 tháng 8 năm 2022 Dương lịch.

Bên cạnh đó, có nhiều người nhầm lẫn giữa ngày lễ Vu Lan và ngày xá tội vong nhân. Thực ra chỉ là vì hai sự kiện này trùng thời gian là rằm tháng 7, cùng xuất phát từ giáo lý nhà Phật chứ ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Cho dù khác nhau như thế nào thì ý nghĩa ngày lễ Vu Lan hay ngày xá tội vong nhân là rất lớn, đều xuất phát từ tấm lòng của người trần thế.

Đọc thêm: Lễ Vu Lan báo hiếu 2022 là ngày nào, nên làm gì trong ngày đó?

3. Phong tục cúng quảy và hồi hướng phước cho thân nhân đã quá vãng

Vào thời Đức Phật còn tại thế, một hôm vua Bình sa vương (Bimbisara) nằm mộng thấy những chúng sinh đói khổ rách rưới đeo bám vào tường thành kêu khóc thảm thiết. Vốn là một người giàu lòng từ bi, vua rất xúc động và khi có cơ hội, đức vua đã hỏi Đức Phật về họ – những chúng sinh đau khổ xuất hiện trong giấc mơ của ông – là ai và phải làm gì để cho họ bớt khổ? Trong bối cảnh này, Đức Phật đã cho đức vua Bình Sa Vương biết các chúng sinh đó là những thân bằng, quyến thuộc của vua trong quá khứ xa xôi. Họ do vì kém duyên phước, khi sống chỉ biết tranh giành hơn thua, ki bo tích trữ để sống qua ngày mà không biết làm phước, không được học đạo và không sống có đạo, không biết chia sẻ, không biết quan tâm đến tha nhân… nên sau khi thân hoại mạng chung ở cảnh giới con người, họ đã phải thọ sinh vào những khổ cảnh. Những chúng sinh xuất hiện trong giấc mơ của đức vua đã bị kẹt vào trong cảnh giới đó nhiều trăm năm, nhiều triệu năm, từ thời đức Phật Ca Diếp và cho đến nay, khi Đức Phật Thích Ca xuất hiện trên thế gian, họ mới có cơ hội được tạm thời xuất hiện. Cũng vì nhân duyên một thân bằng quyến thuộc trong quá khứ của họ nay là Đức vua Bình Sa Vương đã là người biết Đạo, đã vào dòng thánh và có khả năng làm phước hồi hướng công đức cho họ, nên họ xuất hiện cho ông biết để xin cứu giúp.

Đức Phật với tâm đại bi chiếu cái nhìn thanh tịnh vào nhân gian và thấy rằng các thân bằng quyến thuộc đã quá vãng thường đến nhà thân nhân. Họ đứng tựa vách hay ngoài cửa, đứng ở ngã ba đường hay ở cổng thành với mong mỏi người thân của họ nhận ra và làm phước nhân danh họ để họ có chút phước làm động lực vượt thoát khổ cảnh. Nếu thân nhân của họ có lòng từ bi, làm phước và do công đức bố thí đó hồi hướng đến cho họ, với câu chú nguyện: “Idam no nhātinaṁ hontu – sukhita hontu nhātayo” – “Mong cho phước thiện này được thọ hưởng bởi thân nhân của chúng tôi, nguyện cho họ được cát tường như ý”. Nếu các vong nhân đó vân tập ở các đạo tràng, phát sinh tâm hoan hỷ, cảm kích trước việc phước thiện mà thân nhân của họ đang làm, do thiện tâm đó, họ được giải thoát khỏi khổ cảnh. Kinh văn (Tirokuḍḍesu sutta, KN) viết:

Unnate udakaṁ vutthaṁ – “Như nước trên gò cao,

Yathā ninnaṁ pavattati – Chảy xuống vùng đất thấp,

Evameva ito dinnaṁ – Phước lành đã hồi hướng,

Petānaṁ upakappati – Có diệu năng cứu khổ,

Yathā vārivahā pura – Như trăm sông tuôn chảy,

Paripūrenti sāgaraṁ – Đều hướng về đại dương,

Evameva ito dinnaṁ – Nguyện công đức đã tạo,

Petānaṁ upakappati – Thấu đến chư hương linh”,

Như vậy phong tục cúng bái và hồi hướng phước cho hương linh quá vãng đã có từ thời Đức Phật (thế kỷ thứ sáu trước công nguyên) và được khuyến khích trong cộng đồng những người theo Phật giáo tin vào nhân quả nghiệp báo và phước tội do hành động tạo tác của mình, cũng như tin vào sinh tử luân hồi trong những cảnh giới khác nhau.

Đạo Phật truyền đến Trung quốc và Việt nam vào đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Cùng với những niềm tin và tín ngưỡng của Phật giáo trong sự tương giao với văn hóa bản địa, việc cúng giỗ vốn có sẵn trong văn hóa thờ phượng tổ tiên của người Á đông. Khi việc cúng giỗ này được hướng dẫn bởi triết lý Phật giáo về mối liên hệ giữa các cảnh giới, việc cúng giỗ và thờ phượng tổ tiên mang một ý nghĩa mới, nhân văn và rộng rãi hơn là chỉ quan tâm đến một gia tộc.

Ở những vùng đất và cộng đồng theo Phật giáo Nguyên thủy (hay Nam truyền – Theravada), việc cúng dường chư tăng và hồi hướng phước báu đến thân nhân quá vãng xảy ra thường xuyên trong năm, khi có duyên sự, không phải chỉ chờ đến Tháng Bảy Vu Lan mới làm lễ này.

Ngày Xá tội vong nhân 2022 là ngày nào? Nguồn gốc và ý nghĩa

Câu chuyện của ngài Tôn Giả A Nan Đà và con quỷ lửa

Kinh chép rằng một buổi tối, khi A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết ba ngày sau A Na sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa, mặt cháy đen như nó. A Nan sợ quá bèn hỏi quỷ bày cho cách thoát khỏi khổ đồ.

Quỷ đói nói: “Ngày mai, ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, và soạn lễ cúng Tam Bảo thì sẽ được tăng thọ, còn tôi sẽ được sinh về cõi trên”.

A Nan đem chuyện bộc bạch với Đức Phật và được Phật cho bài chú gọi là “cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Đà La Ni”. Sau đó, A Nan đem tụng trong lễ cúng và được thêm phúc thọ.

Tục cúng linh hồn bắt nguồn từ sự tích này nên người ta vẫn gọi cúng cô hồn là “phóng diệm khẩu”, với nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”.

Về sau, nó lại được hiểu rộng thành nghĩa khác như tha tội cho tất cả người chết (xá tội vong nhân), hoặc cúng thí cho những vong hồn vật vờ (cô hồn).

4. Ý nghĩa của Xá tội vong nhân dưới cái nhìn thiền quán

Trong áng văn bất hủ của mình, Nguyễn Du đã mô tả 10 loại cô hồn bao gồm những người có nhiều tham vọng công danh phú quý và quyền lực, thúc đẩy những cuộc viễn chinh, cho đến binh lính vì hoàn cảnh xô đẩy mà tham gia vào việc binh lửa phải bỏ mình trận mạc. Cả những phụ nữ khuê các nhưng thời cuộc đổi thay khiến thân phận như bèo hoa trôi dạt, cho đến những cô gái lỡ thì bán hoa, giang hồ không cố quận khi số kiếp hết chết vùi dập bên đường. Những người đi thi cử, đèn sách với mộng công danh phú quí chưa thỏa ước mơ quan trạng đã bỏ mình nơi kinh kỳ xa lạ, cho đến những trẻ thơ yểu mệnh sơ sảy hay bị bỏ đi vì cuộc sống khốn khó đó đây. Bao nhiêu hoàn cảnh thương tâm của cảnh tử biệt sinh ly, bấy nhiêu nỗi xót xa của những linh hồn bơ vơ vất vưởng… Thương thay:

“Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh”…

Nhìn ra bên ngoài thì có 10 loại cô hồn như Nguyễn Du đã mô tả trong bài văn tế nổi tiếng như vậy, hướng vào bên trong tâm thức mình, chúng ta có biết bao nhiêu loài “cô hồn” – những mảnh vỡ của thương tổn, những vết sẹo – nỗi đau trong quá khứ và hiện tại – có bao nhiêu chúng sinh như vậy chưa giải thoát?

Mười loài “cô hồn” bên trong chúng ta là những phiền não nghiệp chướng mà chúng ta ôm mang, giam nhốt trong tâm thức, mà không chịu xả bỏ, để cho chúng sai khiến, thao túng dẫn đến mệt mỏi, phiền lụy.

Ai ai trong chúng ta, trong cuộc sinh tồn không chỉ như một cá thể mà còn như một chúng sinh có xã hội trong mối liên hệ với gia đình, cộng đồng và thế giới nói chung, đều kinh qua những cuộc trầm luân khổ vui đắp đổi. Khi còn là một đứa trẻ, chúng ta sống hồn nhiên theo bản năng, tâm hồn trong sáng và chỉ làm điều mình thích. Những người lớn quanh ta thấy có trách nhiệm giáo dục, uốn nắn cách cư xử, lời ăn tiếng nói và hành động giao tiếp của chúng ta.

Nhiều khi những hành động được cho là giáo dục đó đã làm thương tổn bản ngã của chúng ta. Khi bị ngăn cấm, bị tổn thương mà chúng ta không hiểu vì sao người lớn đối xử với chúng ta như vậy, ta giận dỗi, thù oán, và ôm mang vết thương trong lòng. Đã có những ‘chúng sinh’ chết tức tưởi theo những kinh nghiệm không vui như vậy. Chúng đi về đâu? Chúng tạo thành một dạng năng lượng tiêu cực, và được đẩy vào tiềm thức, để rồi ‘luân hồi’ trong nẻo vô minh của thế giới vô thức.

Trong suốt quá trình trưởng thành, trong đó có cả những cuộc phiêu lưu tình ái, những vật lộn với thế giới cơm áo gạo tiền, những bon chen địa vị, chỗ đứng trong gia đình cũng như ngoài xã hội, không ít lần chúng ta cảm thấy ‘bầm dập’ để vượt qua những thách thức của đời sống. Con người của chúng ta đã biến đổi theo thời gian. Có những ước mơ hoài bảo, có những lý tưởng, những mong ước thầm kín, những bản năng trỗi dậy nhưng không thể thỏa mãn vì môi trường xã hội, văn hóa ,kinh tế hay những buộc ràng về đạo đức luân lý. Trong cuộc đấu tranh và nỗ lực vì sự sinh tồn này, chúng ta đã bị cắt xén, bị gọt giũa để trở nên ‘văn minh’ hay mạnh mẽ, dễ thích ứng hơn với hoàn cảnh sống. Như vậy đã có những phần, những mảnh ghép khác nhau trong con người chúng ta đã phải chết yểu, hay chết tức tưởi oan uổng dọc đường đời. Nếu không được soi chiếu, ghi nhận và cảm thông – hóa giải, các dấu ấn đó cũng sẽ biến tướng thành những ‘chúng sinh’ những ‘cô hồn’ lang thang vất vưởng đâu đó trong tâm thức chúng ta. Chúng ta có thể bao dung, tha thứ và “mở cửa ngục” cho những ‘vong linh’ này giải thoát không?

Những hành giả trên đường tu Phật hiểu “xá tội vong nhân” là soi chiếu ánh sáng giác ngộ, và sống tỉnh thức trong từng sát na, để ánh hào quang của Phật (thức tỉnh) chiếu vào những chỗ khuất lấp nhất trong tâm thức của chúng ta. Ghi nhận mà không phán xét, bi mà không lụy, thương mà không luyến ái thủ chấp, tạo điều kiện cho các ‘vong nhân’ đó được giải thoát. Như vậy, sự bao dung, thứ tha chính là “nước tĩnh bình” – năng lượng bình an của định tâm, qua phương tiện của Bi – Trí – Dũng – là cành dương chi rải nước từ bi dập tắt muộn phiền.

Các bước thiền bảo vệ như Niệm Phật, phát triển tâm từ, thiền tha thứ và niệm chết hay quán vô thường chính là phương cách để chúng ta đi vào nội tâm, mở cửa ngục – phần tối của tiềm thức và vô thức, và giải thoát tâm khỏi những nghiệp chướng não phiền từ vô lượng kiếp luân hồi sinh tử.

Chúc bạn mùa Vu lan với những hoạt động hữu ích, tạo được nhiều thiện nghiệp để hồi hướng cho thân nhân quá vãng. Và điều quan trọng nhất là nhớ mở cửa ngục và xá tội cho các vong nhân theo cách ý nghĩa thiết thực nhất, không chỉ bằng lễ nghi, mà bằng hiện quán!

Theo tuvingaynay.com/TH!

Bài viết liên quan

Lễ Vu Lan báo hiếu là ngày mấy? Nguồn gốc, ý nghĩa ngày Vu Lan

Bảo Trang

Cúng Rằm tháng 7 ngày giờ nào tốt nhất, cúng vào ngày 14 hay 15?

Bảo Trang

Lễ cúng rằm tháng 7 âm lịch: Nên cúng ở nhà hay ở chùa trước?

Bảo Trang

Top 3 con giáp may mắn nhất dịp rằm tháng 7 âm lịch 2022

Bảo Trang

Tháng cô hồn kiêng gì để tránh những điều xui xẻo, không may mắn?

Bảo Trang

Thứ tự làm 4 lễ cúng rằm tháng 7 âm lịch tại nhà để hóa giải mọi tai ương

Bảo Trang