Thân Mệnh đồng cung nghĩa là gì? Mẫu người Thân cư Mệnh trong tử vi

Mệnh Cung là chủ thể của cả lá số tử vi. Thân Mệnh đồng cung có nghĩa là gì? Nam nữ mệnh Thân cư Mệnh có số mệnh ra sao? Cùng tìm hiểu trong bài viết sau.

1. Tử vi đẩu số là gì?

Tử vi đẩu số là một hình thức dự trắc về vận mệnh của con người được xây dựng trên cơ sở triết lý chu dịch với các thuyết âm dương, ngũ hành, can chi bằng cách lập lá số tử vi với thiên bàn, địa bàn và các cung sao.

Để xem được Tử vi cho một người thì ta cần biết ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh của đương số. Lưu yếu ngày, tháng, năm được tính theo lịch âm. Giờ sinh tính một ngày 12 giờ (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi).

Sau đó cần cứ vào giờ sinh, ngày, tháng, năm sinh để lập lá số tử vi cho đương số. Phương pháp này đặt Tử Vi làm tên một ngôi sao đi tiếp với 13 sao nữa là:

Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Rồi chia đời người ra làm 12 cung: Cung Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Phụ Mẫu, Tử Tức, Quan Lộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Nô Bộc, Điền Trạch, Phúc Đức.

14 chính tinh tuân theo một cách tính có sẵn căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh mà an vào mỗi cung. Sao nào ở cung nào sẽ tiên đoán việc gì đó sẽ xảy ra cho đời người.

Ví dụ:

Cung Phu Thê (vợ chồng) được hai sao Thái Âm, Thái Dương thì người đàn ông hay phụ nữ sẽ có một hôn nhân tốt. Trái lại, nếu thấy có sao Liêm trinh ở cung Phu Thê thì sẽ bị người khác phái lừa dối.

Cung Tài Bạch có sao Vũ Khúc tất tiền bạc dồi dào, nếu cung này gặp sao hung, hẳn nhiên sẽ vất vả nghèo khổ.

Trên trần thế biết bao nhiêu phú ông mà vẫn sống trong cảnh u sầu. Tại vì có hung tinh nằm ở cung Phúc Đức. 14 vị chinh tinh thực ra chỉ là những ký hiệu cho một bài toán.

Nhiều người nghiên cứu về tử vi đẩu số và có đặt tự ra câu hỏi: Tử vi đẩu số bắt nguồn từ đâu? Câu trả lời này đến nay vẫn còn chưa rõ ràng. Đời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử vi Đẩu số Toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa có nói tử vi đẩu số là của Hi Di Trần Đoàn, sống vào đời Bắc Tống, Trung Quốc. Ngày nay các nhà nghiên cứu đều công nhận Hi Di Trần Đoàn là lão tổ của khoa Tử vi đẩu số.

Tử vi đẩu số có tất cả 518.400 lá số khác nhau trong tử vi, bao gồm trong đấy là 14 chính tính cùng với khoảng 120 sao phụ tinh bao gồm các loại như phúc tinh, lộc tinh hay sát sinh. Tất cả các sao chính tinh và phụ tinh sẽ theo các nguyên tắc nhất định được an vào 12 cung trong lá số.

Cung Mệnh trong Tử vi đẩu số

Mệnh Cung là chủ thể của cả lá số tử vi. Một số người cho rằng cung Phúc là quan trọng nhất, nhưng không phải vậy. Cung Mệnh mới là cái gốc để xét đoán mọi vấn đề trong lá số.

Cung Phúc Đức trong Tử vi đẩu số

Cung Phúc Đức là nói về phúc phần của đương số. Cung Phúc thể hiện sự may mắn, được che chở hay không. Nếu một cung Phúc tốt thì đương số dễ gặp thuận lợi, an nhàn, được quý nhân giúp đỡ. Phúc vì tam hợp với Phu Thê nên tất nhiên có ảnh hưởng quan trọng tới người chồng, người vợ. Ngoài ra cung Phúc còn có ý nghĩa hỗ trợ để xem về con cái và bản mệnh thọ yểu của chính đương số.

Cung Tài Bạch trong Tử vi đẩu số

Cung Tài chủ tiền bạc và các vấn đề liên quan tới tiền bạc của đương số. Nó không phải là cung duy nhất quyết định giàu nghèo như nhiều người lầm tưởng. Nó cũng có thể là một cung chỉ tài năng, năng lực và công việc. Bởi vì những thứ này đều liên quan chặt chẽ tới tiền bạc. Ý nghĩa Tài Bạch không chỉ là tiền, mà bao hàm cả tài năng, năng khiếu.

Cung Phu Thê trong Tử vi đẩu số

Cung này chỉ người hôn phối lại chỉ cả tính chất, kết quả của mối quan hệ giữa đương số với người khác phái. Cho nên một cung Phu Thê quá xấu thì kết hôn mấy lần vẫn chẳng được hài lòng. Còn cung Phu Thê tốt thì tuy vẫn có thể hai lần kết hôn, nhưng đều lấy được người ưng ý, cảm nhận được hạnh phúc và thuận lợi trong hôn nhân.

Cung Phu Thê không thể xem tách biệt mà phải kết hợp cùng cung Mệnh, Nhật Nguyệt và các sao tình duyên để đoán. Tuy nhiên, cung này đặc biệt có ý nghĩa khi luận hạn, hay xác định các điểm đặc biệt, sự kiện đặc biệt về người hôn phối, như năm kết hôn, v.v….

Cung Tử Tức trong Tử vi đẩu số

Tử tức cung không những chỉ về con mà còn nói lên khả năng sinh sản, sinh dục nói chung. Vì lẽ đó mà khi các sao Thiên Hình Kiếp sát xuất hiện, thì người mẹ dễ phải mổ xẻ lúc lâm bồn.

Cung này được phép tốt hơn cung Mệnh hay bất cứ cung nào trong lá số, theo đúng tinh thần của câu: “con hơn cha là nhà có phúc”. Cung Tử Tức tốt có nghĩa là các sao đúng cách cục, thể hiện ý nghĩa thấp nhất là con cái dễ nuôi, có hiếu, cao hơn thì là con cái phú quý làm rạng rỡ tổ tông.

Cung Điền Trạch trong Tử vi đẩu số

Cung Điền Trạch chỉ nhà cửa, tài sản lớn, sự nghiệp lớn. Thời nào thì thời, quan to tất cái nhà thường cũng phải to, còn người nghèo thì nhà rách vách nát, thậm chí không có nhà. Thế nên cứ ngắm cung Điền thì biết được nhiều việc về sự giàu có hay nghèo hèn. Theo tuvingaynay.com các ông quan to, giám đốc, lãnh đạo cung Điền phải rất tốt, nếu không thì khó mà tạo dựng được sự nghiệp, có tạo được thì cũng chỉ là danh tiếng suông, không có thực lực.

Cung Quan Lộc trong Tử vi đẩu số

Cung này ý nghĩa chính yếu nhất là nói lên công việc của đương số, những công việc mà đương số có duyên làm, có thể làm. Ngoài ra còn có ý nghĩa chỉ cấp trên, cơ quan. Đương nhiên một cung Quan tốt thì công việc dễ dàng, thuận lợi.

Cung Thiên Di trong Tử vi đẩu số

Cung này chỉ khả năng thích ứng với xã hội và hoạt động trong xã hội. Với ý nghĩa đó thì nó sẽ gồm cả: khả năng kết giao bè bạn, lãnh đạo, thích ứng hay chỉ huy hoàn cảnh…. Và như vậy rõ ràng là một cung Di tốt sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của cuộc đời. Người Di tốt thì khả năng giao tiếp đa số tốt.

Cung Tật Ách trong Tử vi đẩu số

Có quan điểm cho là Tật Ách thể hiện bản chất con người, còn cung Mệnh chỉ là vỏ ngoài. Lý luận này có nhiều điểm mâu thuẫn. Rõ ràng có những người thể hiện không khác nhiều với bản chất.

Do đó cung Tật Ách chỉ là chỉ chung về bệnh tật tai ách mà thôi. Ngay cả đám ma thế nào cũng chưa chắc được, cái chết và đám ma không nhất thiết nằm ở cung Tật ách. Tuy cung này không phải là cường cung, nhưng vì bệnh tật và tai ách gây ra nhiều khổ cực, lo lắng cho đương số, nên cung Tật xứng đáng được xem xét kỹ càng.

Cung Phụ Mẫu trong Tử vi đẩu số

Phụ mẫu cung chủ yếu chỉ vai trò của cha mẹ trong đời sống của đương số, nói hình tượng hơn là ta nhìn cha mẹ của đương số qua lăng kính của chính đương số, chứ không nhất thiết là nó có thể cho thấy chính xác cuộc đời của cha mẹ.

Cung Huynh Đệ trong Tử vi đẩu số

Huynh Đệ cung chỉ số lượng anh em, sơ lược về cuộc đời của anh em và quan hệ của anh em với đương số. Cung này không quan trọng lắm. Nếu có nhiều cát tinh có khi còn là ý nghĩa xấu, bởi như vậy là mất hết tinh hoa của các cung khác.

Cung Nô Bộc trong Tử vi đẩu số

Cung này chỉ bạn bè, người dưới quyền, vợ bé. Hoàn toàn không có ý nghĩa: nếu cung Nô vượng cung Mệnh suy tức là mình làm tôi tớ cho người khác. Việc mình làm thuê hay mình hèn kém là do các cung Mệnh Tài Quan Điền Di chi phối, chứ không phải từ cung Nô.

Thân Mệnh đồng cung nghĩa là gì? Mẫu người Thân cư Mệnh trong tử vi

2. Mẫu người Thân Mệnh đồng cung trong tử vi

Người có Thân Mệnh đồng cung hay nói cách khác là Thân cư Mệnh. Người sinh ra vào giờ Tý (23h-1h) hoặc giờ Ngọ (11h-13h), sinh vào hai giờ này thì cung an Thân chính là cung Mệnh.

Trong 13 cung, cung Mệnh và cung Thân là quan trọng nhất. Đầu tiên là cung Mệnh. Khi nói về chữ “mệnh” chúng ta thấy nó mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Cái ý nghĩa thứ nhất của chữ mệnh đó chính là bản thân của đương số.

Xung quanh cuộc đời của cá nhân đương số còn có cha mẹ (Phụ Mẫu), anh em (Huynh Đệ) vợ chồng (Phu Thê) con cái (Tử Tức) rồi tới bạn bè đồng nghiệp, thuộc hạ (Nô Bộc) và cả cái xã hội mà đương số phải đương đầu va chạm hằng ngày (Thiên Di).

Ý nghĩa thứ hai của chữ “mệnh” là Thiên Mệnh, là số trời, là cái quan niệm mỗi người sinh ra vào giờ nào, ngày nào, tháng nào, năm nào thì cuộc đời đã được an bài sắp đặt sẳn rồi. Bởi vậy Mệnh được xem như nền móng của một căn nhà.

Nếu nền móng không vững chắc, kiên cố thì những gì xây dựng trên đó cũng không thể nào tồn tại lâu dài được. Đó là trường hợp của những người có các cung chính như Quan Lộc, Tài Bạch, Điền Trạch v.v… tốt đẹp, sáng sủa, nhưng theo tuvingaynay.com Mệnh yếu thì tiền tài, danh vọng, của cải cũng chỉ như cái bóng to lớn trên tường mà thôi.

Tuy nhiên, dù là môn khoa học huyền bí nhưng ngoài quan niệm chủ yếu “Thiên Mệnh” khoa Tử Vi không quên một yếu tố thứ hai sẽ dựa phần vào đời người, đó là quan niện “nhân định”. Vì thế Tử Vi Đẩu Số mới có một cung di động gọi là cung Thân, là cung quan trọng thứ nhì trong một lá số.

Khoa Tử Vi cho rằng cung Mệnh là căn bản của một đời người. Nhưng cung Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ nhất vào giai đoạn của một đời người hay gọi là ”tiền vận”. Tiền vận là khoản thời gian từ lúc sinh ra cho đến khoản 30 tuổi. Nhưng có người tính tiền vận theo Cục. Ví dụ:

Thủy Nhị Cục thì tiền vận từ 1 đến 32 tuổi
Mộc Tam Cục thì tiền vận từ 1 đến 33 tuổi
Kim Tứ Cục ……………..1 đến 34 tuổi
Thổ Ngủ Cục ………………1 đến 35 tuổi
Hỏa Lục Cục ………………1 đến 36 tuổi

Chúng ta thấy quan niệm này của Tử Vi rất hợp lý vì con người từ lúc sinh ra cho đến khoảng 30 tuổi hầu như sống dưới mái ấm của gia đình, bên cạnh tình thương yêu của cha mẹ, và sự dùm bọc của anh em. Mãi cho đến khi 30 tuổi trở lên là lứa tuổi trung bình cho hầu hết mọi người để tự lập thân, bước chân vào bương trải với đời. Đó là lúc ứng vào cung Thân của lá số.

Sau tiền vận thì cung Thân ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng thời gian còn lại của cuộc đời, nó bao gồm cả trung vận và hậu vận của mỗi người. Bởi vậy khi nói đến sự quan trọng của cung Mệnh và Thân, chúng ta thấy có hai quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất chú trọng cung Thân hơn cung Mệnh và luận cứ của quan điểm này là trong khoảng tiền vận chúng ta thường sống dưới mái ấm gia đình, trong vòng tay che chở của cha mẹ cho nên nếu cung Mệnh có tốt thì cũng chưa làm nên cơm cháo gì được. Ngược lại nếu cung Thân tốt thì sẽ hữu hiệu hơn cho cái tuổi “tam thập nhị lập” tức là tuổi bắt đầu lăn lộn vào đời lập nghiệp cho nên rất cần có một cung Thân tốt đẹp.

Quan điểm thứ hai thì cho rằng, cuộc đời như một cái cây mà Mệnh là gốc rễ, Thân là những nhánh cây, cành lá. Nếu gốc rễ không vững chắc thì cành lá cũng khó mà xanh tươi, đơm hoa kết qủa được. Người viết đồng tình với quan điểm này. Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ ở tiền vận nhưng vẫn luôn là căn cơ, cốt lõi là nền tảng của một đời người.

Và khi nói về cung Thân, chúng ta phải nhớ một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là khi cung Thân đóng chung với cung nào thì những ý nghĩa tốt xấu của cung ấy sẽ là những nét chính yếu trong cuộc đời của ngưòi ấy. Như vậy thì người có Thân cư Mệnh (hay Thân Mệnh đồng cung) là mẫu người như thế nào?

Sắc nét đặc biệt đầu tiên của người này là lòng tin vào thiên mệnh rất mạnh. Vì như chúng ta đã nói ở trên, cái ý nghĩa đầu tiên của chữ Mệnh là ý trời = mọi việc đều do Trời định, là định mệnh. Mẫu người này ít tin vào quan niệm “Nhân định thắng thiên” cho nên khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, trắc trở họ thường nhắm mắt buông tay mặt cho số phận xoay vần vì thuyền đời của họ đã lỡ neo vào bến Mệnh rồi, chỉ còn biết trong nhờ đục chịu mà thôi.

Một đặc điểm thứ hai đáng kể của người Thân Mệnh đồng cung là không có những khúc quanh cũng như những biến đổi lớn lao nào trong suốt cuộc đời của họ. Như đã bàn ở trên, Mệnh ảnh hưởng mạnh vào tiền vận. Thân ảnh hưởng mạnh vào trung vận và hậu vận.

Bởi vậy khi Thân và Mệnh đồng cung thì Mệnh và Thân đều ảnh hưởng chung vào cả cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc lìa đời. Có nghĩa là nếu đương số giàu có thì suốt đời giàu có, nếu nghèo thì sẽ nghèo suốt đời chứ không giống như những người khác chẳng hạn nếu cung Mệnh xấu thì tiền vận có thể cực khổ nhưng cuộc đời về sau có thể thay đổi khá hơn nếu cung Thân tốt đẹp hơn cung Mệnh. Hay ngược lại nếu cung Mệnh tốt đẹp thì cuộc đời của đương số có thể sung sướng từ lúc lọt lòng mẹ cho đến tuổi lập thân. Rồi sau đó có thể đổi đời, trở nên vất vả, cực khổ nếu cung Thân xấu hơn cung Mệnh.

Và điểm đặc biệt cuối cùng là có người cho rằng nếu Mệnh Thân đồng cung tại tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và hai cung Tý Ngọ thì đó là những vị trí không tốt cho người Mệnh Thân đồng cung.

Tóm lại, cuộc đời của những người Thân Mệnh đồng cung là một con đường tương đối bằng phẳng. Dù đường đời của họ có đầy hoa lá hay chỉ toàn sỏi đá, chông gai thì cũng không có những khúc quanh đột ngột, hay những biến động lớn làm thay đổi cả cuộc đời.

Theo tuvingaynay.com!

Bài trướcThân cư Phúc Đức nghĩa là gì? Mẫu người Thân cư Phúc Đức trong tử vi
Bài tiếp theoXem ngày 3 tháng 9 năm 2021 dương là bao nhiêu âm lịch, tốt hay xấu?